28 Tháng 8, 2026 | Làng nghề và Đặc sản
Bắc Ninh – Kinh Bắc, vốn được biết đến là vùng quê của những liền anh liền chị với làn điệu quan họ mộc mạc chữ tình, vùng đất văn hóa, khoa bảng với hàng chục làng nghề truyền thống, cũng là nơi lưu giữ nhiều đặc sản ẩm thực đặc sắc nổi tiếng gắn bó với người dân bao đời nay. Giữa miền quê ấy có một thức quà dân dã mang tên “ Bánh tẻ làng Chờ”, món ăn có mùi thơm đặc trưng, sự kết hợp hài hòa giữa gạo tẻ, thịt hành, vị giòn, ngon khiến ai đã từng thưởng thức bánh tẻ nơi đây không thể quên được.

Chính những nghệ nhân làm bánh lâu năm tại làng Chờ cũng không biết là món bánh này xuất hiện từ bao giờ, chỉ biết đâu đâu khắp tỉnh Bắc Ninh, từ hàng quán vỉa hè đến nhà hàng sang trọng, bánh tẻ làng Chờ đã được "phủ sóng". Đặc biệt vào các dịp lễ, tết, hiếu hỉ thì đây là sản phẩm không thể thiếu trên mâm cỗ của mỗi gia đình tại địa phương.
Khác với bánh tẻ ở những vùng miền khác, bánh tẻ làng Chờ Bắc Ninh mang một phong vị rất riêng. Bánh còn có tên gọi dân dã khác là bánh răng bừa bởi hình dáng thuôn dài, hai đầu nhỏ lại và phần giữa phình ra giống như chiếc răng bừa của nhà nông. Tuy nhiên, cái làm nên thương hiệu "vạn người mê" chính là độ dẻo, độ giòn và mùi thơm nồng đượm của lá dong quyện với bột gạo tẻ nguyên chất.
Nét đặc trưng của bánh tẻ làng Chờ là dẻo chứ không nhão, nát như bánh giò. Bánh vừa có độ giòn lại vừa có vị đậm, vị béo của nhân, nồng nàn của mùi lá. Để làm ra một chiếc bánh tẻ hoàn chỉnh cần trải qua nhiều công đoạn với 2 khâu làm vỏ bánh và làm nhân bánh. Tuy nhiên, để làm nên vị ngon, đặc trưng của bánh tẻ làng Chờ là khâu làm bột (vỏ bánh).

Nguyên liệu để làm bánh là gạo tẻ được lựa chọn kỹ lưỡng, ít độ dẻo dính, từ giống lúa dài ngày như 203 hoặc gạo Bao thai hồng. Gạo đem ngâm khoảng 5 tiếng rồi cho vào cối xay với tỷ lệ nước nhất định, sao cho bột bánh càng nhỏ càng tốt và có thể thêm một chút nước vôi trong hòa cùng bột loãng để vỏ bánh bắt màu lá dong, xanh đẹp mắt hơn. Bột càng nhỏ, bánh làm ra càng mịn. Tiếp theo, bột bánh sẽ được ngâm trong thời gian 1 đến 3 ngày tùy theo thời tiết (nếu mùa hè có thể ngâm từ 1 – 2 ngày; mùa đông ngâm bột 2 – 3 ngày). Trong quá trình ngâm bột, người làm bánh luôn chú ý thay nước thường xuyên để tránh cho bánh bị chua. Nhân bánh cũng được làm cẩn thận từ khâu lựa chọn nguyên liệu đến khâu sơ chế. Thịt để làm nhân phải bảo đảm độ tươi, dính, theo tỷ lệ 7 nạc 3 mỡ để bánh không bị khô. Sau khi rửa sạch, thịt được thái hạt lựu trộn đều với mộc nhĩ và hành thái nhỏ. Nguyên liệu tươi ngon thì bánh mới không bị chua, bánh giòn, ngon
Sau khi hoàn thành khâu sơ chế, bánh được gói lại, cuộn bằng dây tơ dứa và được hấp hoặc luộc 25 – 30 phút là chín. Khâu luộc bánh đóng vai trò vô cùng quan trọng nếu để lửa to, luộc bánh kỹ, bánh sẽ bị nhừ, nhão; hoặc không đủ lửa, bánh sẽ không chín. Sản phẩm sau hoàn thiện, bánh có màu trong pha chút xanh, bóng đẹp, vị giòn ngon, nhân dậy mùi thơm. Khi thưởng thức, mỗi người đều cảm nhận được sự giản dị, mộc mạc dư vị đậm đà, khó quên mang hồn cốt của ẩm thực làng quê Việt.

Hiện nay, trên địa bàn xã Yên Phong có nhiều hộ gia đình sản xuất kinh doanh bánh tẻ, giải quyết đươc rất nhiều lao động ở nhiều độ tuổi khác nhau, mang lại giá trị lợi ích kinh tế cho các hộ gia đình.
Bánh tẻ làng Chờ không chỉ đơn thuần là một món ăn, đó là tinh hoa của hạt gạo, là sự khéo léo của bàn tay người phụ nữ vùng Kinh Bắc và là nhịp cầu nối ký ức tuổi thơ của biết bao người con xa xứ. Dù cuộc sống hiện đại có vô vàn món ngon vật lạ, nhưng hương vị mộc mạc, thanh tao của chiếc bánh tẻ làng Chờ vẫn luôn chiếm một vị trí trang trọng trong lòng thực khách và trở thành một sản phẩm du lịch để du khách có dịp đến Bắc Ninh có thể thưởng thức và mua về làm quà sau mỗi chuyến đi. /.
Nguyễn Huệ
Loading...