khach san bac ninh

Liên kết website
Bản đồ du lịch
Ban do du lich
Số lượt truy cập: 1,669,578
Hôm nay: 62
Số người đang online: 12
Giới thiệu
Định hướng bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể dân ca Quan họ Bắc Ninh:

Cơ sở khoa học và pháp lý của bảo tồn di sản văn hóa:
Đảng ta luôn khẳng định chủ trương: Nhà nước cùng nhân dân giữ gìn và tôn tạo những di tích lịch sử văn hóa. Hoàn thành việc sưu tầm vốn văn hóa văn nghệ các dân tộc. Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian) văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể. Luật Di sản văn hóa đã dành trọn vẹn chương II, từ điều 17 đến điều 21 để đề cập vấn đề di sản văn hóa phi vật thể từ trách nhiệm của nhà nước, các cơ quan nhà nước đến các nguyên tắc bảo vệ và phát huy. Chẳng hạn, Điều 20: “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ngăn chặn nguy cơ làm sai lệch, bị mai một hoặc thất truyền”. Hoặc Điều 26: “Nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ nắm giữ và có công phổ biến nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp có giá trị đặc biệt”. Để thực hiện những điều luật này, có nhiều việc phải làm, nhưng phải xuất phát từ thực tiễn của những công việc liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể. Có hai hệ thống công việc liên quan mật thiết đến nhau: sưu tầm và nghiên cứu; bảo tồn và phát huy.
Bối cảnh thực hiện, những khó khăn và thách thức :
- Bối cảnh thực hiện: Việc bảo tồn văn hóa nói chung và văn hoá phi vật thể nói riêng gặp những khó khăn, thách thức do một loạt các vấn đề khách quan và chủ quan mang tính thời đại, tính toàn câù tác động tới kinh tế, xã hội và văn hoá các nước trên thế giới tập trung ở một số lĩnh vực sau :
- Vấn đề toàn cầu hóa: Quá trình toàn cầu hóa và chuyển đổi cơ cấu xã hội, cùng với những điều kiện khác đã tạo ra nhiều cơ hội đối thoại mới giữa các cộng đồng, đồng thời cũng làm nảy sinh những mối đe dọa về sự suy thoái, biến mất và hủy hoại các di sản văn hóa phi vật thể.
- Vấn đề thương mại hóa: Bản chất của những di sản văn hóa phi vật thể là tập quán xã hội - phương thức sinh hoạt của cộng đồng. Một khi phương thức sinh hoạt này bị coi là một thương phẩm để mưu cầu lợi nhuận, thì tính chất của nó sẽ hoàn toàn biến đổi.
- Vấn đề đô thị hoá làm biến đổi môi trường văn hóa:  Di sản văn hóa phi vật thể dân ca Quan họ Bắc Ninh được hình thành và phát triển gắn liền với các không gian văn hóa làng xã. Trong lịch sử, ta đã từng nhiều lần mất nước nhưng không mất làng, nên cuối cùng đã giành lại được nước. Về văn hóa cũng đã không bị đồng hóa trước những thế lực văn hóa lớn. Trái lại, chính cái lõi này lại có sức đồng hóa ngược đối với các văn hóa ngoại lai, thanh lọc chúng cho mình, làm giàu, làm mạnh mình lên. Cũng từ cái lõi gốc này mà sinh sôi này nở, đa dạng hóa, có thể đến vô cùng. Đây là nét đặc trưng quan trọng nhất của văn hóa Việt Nam. Làng chính là nơi giữ cái “gen” của văn hóa Việt, để cho nó có thể biến hóa muôn vẻ mà ta vẫn là ta, là ta đặc sắc hơn, phong phú hơn, mạnh hơn. Hiện nay ở Bắc Ninh, nông thôn tiếp tục quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ, một số làng quan họ nay đã thành phố, thành phường . Không gian văn hoá Quan họ làng xã truyền thống đang bị thu hẹp dần. Chính cái không gian làng Việt được bảo tồn, được sống lại sẽ tự nó tìm được cách tiếp biến và miễn dịch với tất cả những thứ hiện đại đang đến, dù có xa lạ, mới mẻ, thậm chí có vẻ kỳ cục đến đâu. Vì vậy, bảo vệ các không gian tự nhiên và những địa điểm gắn với ký ức cần thiết cho việc thể hiện di sản văn hóa phi vật thể.
- Vấn đề du lịch văn hóa: Di sản văn hóa luôn là nội dung thu hút và hấp dẫn khách du lịch. Du lịch tìm hiểu di sản văn hoá có thể phát huy, biến tiềm năng văn hóa thành động lực phát triển. Tuy nhiên không gian vùng di sản văn hóa phi vật thể có thể không thể đáp ứng được số lượng quá lớn khách du lịch. Du lịch đại trà và việc bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể thật khó có thể song hành với nhau. Du lịch khiến cho các hình thức biểu hiện tính chất, chức năng, v.v. vốn có của văn hóa phi vật thể cơ bản bị biến đổi.
Lựa chọn mô hình bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể dân ca Quan họ Bắc Ninh:
Lựa chọn mô hình bảo tồn :
Quan niệm bảo tồn di sản văn hoá trên thế giới ngày nay mang tính khoa học và thực tế hơn. Vì vậy trong vài thập niên gần đây, bảo tồn di sản văn hoá đã trở thành một ngành nghiên cứu và thực hành mang tính chuyên môn cao, tuân thủ các nguyên tắc nghiêm ngặt theo thông lệ được cộng đồng quốc tế chấp nhận. Bảo tồn mà giữ nguyên trạng cứng nhắc chỉ có tác dụng làm đóng băng di sản và về lâu dài sẽ đưa đến sự xuống cấp, hủy hoại chúng. Hiện nay, thông lệ quốc tế khuyến khích giữ gìn nguyên trạng di sản nhưng cũng uyển chuyển áp dụng các qui định mới, nhằm biến di sản văn hoá sinh động hơn và không “đóng băng” chúng trong thời kinh tế thị trường. Thực tế bảo tồn di sản ở nhiều nước trên thế giới đã hình thành thành 3 quan điểm và tương ứng với nó là 3 mô hình bảo tồn di sản:
+ Bảo tồn  nguyên trạng:
Đây là quan điểm dựa trên quan điểm bảo tồn văn hoá vật thể của các nhà bảo tàng học. Quan điểm này cho rằng, các sản phẩm của quá khứ cần được bảo tồn nguyên dạng như nó vốn có. Các nhà bảo tàng học nước ta cũng chịu ảnh hưởng khá mạnh bởi quan điểm này. Đối với lễ hội truyền thống- một loại hình văn hoá phi vật thể, thì việc xác định đâu là các yếu tố nguyên gốc sẽ gặp phải những khó khăn. Một mặt, những thay đổi lịch sử tác động đến sự biến đổi về chức năng của các lễ hội dẫn đến biến đổi cấu trúc lễ hội, mặt khác, bất cứ một lễ hội nào cũng tự tích hợp những yếu tố văn hoá của thời đại hoặc ngoại lai để thích nghi với từng thòi đại. Điều quan trọng hơn là: Bản chất của truyền thống nói chung và lễ hội nói riêng là sự lựa chọn và sáng tạo của từng cộng đồng.
+ Bảo tồn trên cơ sở kế thừa:
Quan điểm này thừa nhận sự biến đổi của di sản cho rằng mỗi di sản văn hoá có nhiệm vụ lịch sử ở những không gian và thời gian cụ thể, những mặt tích cực của chúng phải được phát huy cho phù hợp với nhu cầu thời đại, ngược lại những mặt tiêu cực phải bị loại bỏ.
Di sản, nhất là di sản văn hoá phi vật thể luôn là một thực thể hữu cơ không thể chia cắt thành những yếu tố tích cực/tiêu cực; tiến bộ/lạc hậu; tốt/xấu... Vì thế, khi chúng bị chia cắt một cách siêu hình thì lập tức bị biến dạng và tiêu vong. Thực tiễn ở Việt Nam đã cho thấy, với quan điểm bảo tồn này nhiều lễ hội chỉ còn lại phần "hội", nhiều hình thái văn hoá gắn với tín ngưỡng cổ xưa, nhiều diễn xướng dân gian có giá trị bị coi là dị đoan và bị cấm thực hành. Rõ ràng bảo tồn di sản theo quan điểm này sẽ dân đến một hệ quả tất yếu là nhiều hình thái văn hoá cổ truyền mà dưới con mắt của người đương thời là không phù hợp sẽ bị gỡ bỏ và di sản sẽ không còn toàn vẹn nữa.

+ Bảo tồn và phát triển:
Đây là quan điểm hiện nay đang chiếm vị trí chủ đạo trong giới học thuật cũng như giới quản lý văn hoá ở nhiều nước phát triển trên thế giới. Quan điểm này không bận tâm với việc tranh cãi nên bảo tồn y nguyên như thế nào, nên kế thừa cái gì từ quá khứ mà đặt trọng tâm vào việc làm thế nào để di sản sống và phát huy được tác dụng trong đời sống đương đại.
Hạt nhân của quan điểm lý thuyết này là khái niệm "tính chân thực": Nếu như các quan điểm truyền thống cho rằng độ chân thực là cốt lõi của di sản thì ngày nay người ta lại đánh giá thấp vai trò của tính chân thực này: Chân thực hay không phải là một giá trị khách quan và độ chân thực được đo bằng trải nghiệm.
Mô hình bảo tồn - phát triển này được thể hiện ở những điểm sau:
* Về mục đích: Đa mục đích, và mục đích được coi là chủ đạo là do cộng đồng lựa chọn, không có mục đích nào được xem là tối thượng cả (lưu ý: các nhà khoa học hay giới quản lý không thể thay thế cộng đồng trong việc lựa chọn mục đích hay giá trị).
* Tính chân thực: Độ chân thực của di sản nằm trong trải nghiệm và vì thế không thể xác định một cách khách quan được.
* Về cấu trúc văn hoá: Dựa trên cấu trúc truyền thống nhưng cũng có thể làm mới nó hoặc mở rộng hợp lý.
* Về chức năng: Đa chức năng.
* Về nguồn lực: Nguồn lực được tạo ra bởi nhu cầu của thị trường sản phẩm. Nhu cầu tạo ra nguồn lực và do vậy các nguồn lực không có giới hạn.
* Phương thức và phương pháp bảo tồn: Khá linh động, có thể theo phương thức dân gian truyền thống, có thể kết hợp các yếu tố hiện đại.